Những điều cần biết về bê tông chịu nhiệt

Với chức năng là cốt liệu nhỏ và lớn trong bê tông chịu nhiệt người ta thường dùng các vật liệu đập sau đây: bột cromit, gạch manhedit, samot và gạch đỏ thường đập vụn, samot cục, xỉ lò cao, bazal, diabaz, andehit, tro núi lửa. Độ lớn cực đại của dầm dùng cho kết cấu đổ toàn khối không được vượt quá mức 40 mm, còn cho các trường hợp còn lại -20mm. Lượng hạt nhỏ kích thước dưới 0,14 mm trong cốt liệu không được quá 15% theo khối lượng.

nhung-dieu-can-biet-ve-be-tong-chiu-nhiet

Được dùng cho các kết cấu xây dựng công nghiệp, dưới tác động lâu dài của nhiệt độ cao, phải bảo tồn được các tính chất cơ-lý của minh trong thời gian đã định. Bê tông chịu nhiệt được chế tạo từ chất kết dính và cốt liệu chịu nhiệt.

Với chức năng là chất kết dính trong bê tông chịu nhiệt người ta thường dùng xi măng pooclang, xỉ, xi măng alumin và thủy tinh lỏng. Để cải thiện cấu trúc của đá xi măng và duy trì cường độ người ta cho phụ gia khoáng vào chất kết dính.

Độ nghiền mịn của phụ gia phải đảm bảo khi sàng, lượng lọt qua sàng không được dưới 70% đối với bê tông dùng xi măng pooclang và không được dưới 50% đối với bê tông dùng thủy tinh lỏng.

Với chức năng là cốt liệu nhỏ và lớn trong bê tông chịu nhiệt người ta thường dùng các vật liệu đập sau đây: bột cromit, gạch manhedit, samot và gạch đỏ thường đập vụn, samot cục, xỉ lò cao, bazal, diabaz, andehit, tro núi lửa. Độ lớn cực đại của dầm dùng cho kết cấu đổ toàn khối không được vượt quá mức 40 mm, còn cho các trường hợp còn lại -20mm. Lượng hạt nhỏ kích thước dưới 0,14 mm trong cốt liệu không được quá 15% theo khối lượng.

Mác của bê tông chịu nhiệt được xác định bởi giới hạn cường độ chịu nén của các mẫu lập phương 10 x 10 x 10 cm, được nhân với hệ số 0,85. Các mẫu được nén sau khi cứng rắn trong thời gian 7 ngày đối với bê tông dùng xi măng pooclăng và 3 ngày – đối với bê tông dùng xi măng alumin và thủy tinh lỏng.

Các mẫu bê tông dùng xi măng pooclăng và xi măng alumin được bảo dưỡng trong điều kiện ẩm, còn các mẫu dùng thủy tinh lỏng- trong điều kiện không khí ở nhiệt độ 18 ± 3oC. Trước khi nén các mẫu được sấy khô ở nhiệt độ 100 ÷ 110oC trong thời gian 32 giờ, sau đó làm nguội. Đối với bê tông chịu nhiệt với nhiệt độ phục vụ giới hạn trên 600oC người ta thường xác định cường độ chịu nén của các mẫu bê tông, được thí nghiệm sau khi đốt nóng đến 800oC đối với bê tông chịu nhiệt với nhiệt độ phục vụ giới hạn trên 800oC, trên giới hạn cường độ của các mẫu kiểm tra đã được sấy khô. Đối với bê tông chịu nhiệt với nhiệt độ phục vụ giới hạn 600 và 700oC các mẫu được đốt nóng đến đúng nhiệt độ đó sau khi đã sấy khô chúng trong thời gian 32 giờ. Tốc độ đốt nóng 150÷ 200oC/giờ, thời gian giữ mẫu ở nhiệt độ 800oC- 4 giờ. Sau đó các mẫu được làm nguội ở trong lò cho đến nhiệt độ trong phòng. Sau khi làm nguội các mẫu được bảo quản trong thời gian 7 ngày trên thùng có nước và đem nén.

Có thể dùng xi măng pooclăng xỉ trong bê tông chịu nhiệt, được phục vụ ở nhiệt độ dưới 700oC. Nếu như trong trường hợp này hàm lượng xỉ dưới 50%, thì người ta them vào bê tông bất kỳ phụ gia nghiền mịn nào với lượng 30%  theo khối lượng xi măng pooclăng xỉ.

Người ta không cho phụ gia nghiền nhỏ vào xi măng pooclăng khi nhiệt độ phụ vụ của bê tông chịu nhiệt 350oC. Cho phép dùng bê tông thường với xi măng pooclăng trong các linh kiện của các kết cấu, mà nhiệt độ phục vụ của nó không quá 200oC cường độ chịu nén của bê tông giảm đi 25%. Cường độ chịu uốn và chịu kéo của bê tông trong những điều kiện này có thể giảm đi đến 50%.